Status of NGUYỄN QUANG HÒA

NGUYỄN QUANG HÒA

110 Credits Price: USD/hr
  • Location:
  • Gender:
  • Male
  • Languages:
  • Vietnamese
  • Transports:
  • Bus
    Car
    Train
    Motorcycle
    Foot
    Boat
    Bicycle
  • Availability:
  • Day
    Night
    Weekday
    Weekend
  • Interest:
  • Travel
    Business
    In English
    Education
    Lifestyle
    Sports
    Religion
About me:

Friend list (17)

CHÁNH THUYẾT TIÊN RỒNG

 

 

Huấn Ca Tiên Rồng – 1982

 

Là người Con Cháu Tiên Rồng

Ðồng Bào ta nhớ thuộc lòng chín kinh

Tiên Rồng thứ nhất xác minh

Song Hiệp Hoàn Chỉnh trọn tình ai ơi

Thứ hai Trầu Cau diễn lời

Thân Thương nguyên lý làm đời sống chung

Thứ ba hướng tới trùng phùng

Chử Ðồng: Bình Ðẳng Tột Cùng là đây

Tiết Liêu thứ bốn dựng xây

An Dân Thịnh Nước xum vầy ấm no

An Tiêm tiếp đến chăm lo

Việc Làng Dân Chủ - đạo phò con dân

Vọng Phu thứ sáu góp phần

Chồng nào Vợ nấy chuyên cần tăng gia

Trương Chi thứ bảy ấy là

Căn nguyên hạnh phúc – tình ta sáng ngời

Mỵ Châu thứ tám dẫn lời

Truyền kỳ Giữ Nước góp đời sỹ phu

Kết bài Phù Ðổng diệt thù

Dấn thân Cứu Nước cho dù gian nan

Chánh Thuyết tóm lại chứa chan

Tiên Rồng Văn Hóa bao ngàn năm qua.

************************

 

Bài thơ trên, mô tả những nét đặc trưng tiêu biểu về nội dung của chín truyền thuyết lưu hành ngàn đời trong lòng Dân Tộc Việt Nam, được gọi là Chánh Thuyết Tiên Rồng. Chánh thuyết này thì khác biệt với cái gọi là “Chủ thuyết Mác – Lê và tư tưởng Hồ Chí Minh” ra sức tuyên truyền, cải tạo, làm tha hóa con người đang sống trên quê hương đất nước do Đảng Cộng Sản Việt Nam chủ trương.

Vì thiếu quan niệm sống Phúc Đức của Tổ Tiên linh huấn, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản nhắm mắt làm ngơ, du nhập một thứ chủ thuyết và tổ chức ngoại lai, với ước mong cứu dân cứu nước thoát ách thực dân Pháp. Nhưng thực tế, vì thiếu Sức Mạnh Hồn Việt, cho nên Việt Cộng đã tạo ra nghiệp chướng với những hành động phản dân hại nước, chém giết, tù đày và hủy hoại nhân tài nhằm duy trì độc đảng cầm quyền trong gần thế kỷ.

Hậu quả là ngày nay Đảng Cộng Sản Việt Nam dẫn đưa dân nước vào tròng nô lệ kinh tế do tập đoàn cai trị Trung Quốc chủ trương, với các chính sách của thiên triều soạn thảo, đem ra cho Việt Nam thi hành. 

Từ những việc đấu tranh giai cấp, đấu tố và chém giết trong cuộc cải tạo ruộng đất Miền Bắc vào thập niên 1953, cho tới cướp phá tài sản, tù đày cải tạo người dân Miền Nam sau năm 1975, rồi nhượng đất bán biển đảo, nhằm thực thi sách lược đô hộ của quan thầy “Một Vành Đai – Một Con Đường”, để trở lại thời kỳ ngàn năm Bắc Thuộc, như đã từng xảy ra trong lịch sử.

Bởi thế, sự chọn lựa tư tưởng sai lầm và thiếu Sức Mạnh Hồn Việt trong công cuộc tổ chức giải cứu Dân Nước, là điều kiện tiên quyết mà mọi người chúng ta cần quan tâm lưu ý.

Đang khi Chánh Thuyết Tiên Rồng là tinh hoa nền tảng của Văn Hóa Việt, được Tổ Tiên trang trọng đúc kết thành Biểu Tượng Tiên Rồng, lưu truyền trong lòng Dân Tộc, trải qua bao ngàn đời của Lịch Sử Việt. Bổn phận và trách nhiệm của người Con Cháu Dân Tộc, như chúng ta ngày nay, là tìm hiểu học hỏi, để nhận biết ý nghĩa trọng đại của Biểu Tượng Tiên Rồng mà Tổ Tiên muốn nhắn gởi, và chắc chắn, đang ẩn chứa bao điều cao siêu hiện thực trong đó.

Chánh Thuyết Tiên Rồng cũng khác biệt với cái gọi là “tứ thư ngũ kinh”, “cửa Khổng sân Trình”, hay chữ Nho, trong kinh sách của người Trung Quốc (Hoa, Hán, Tàu). Điển hình, Kinh Dịch khai triển theo khái niệm Âm Dương, hay Tam tài Thiên – Địa – Nhân (Thiên hoàng, Địa hoàng, Nhân hoàng) là những ý niệm trừu tượng và là thành quả của óc suy luận thuần túy vật chất, vô tri vô giác.

Chánh Thuyết Tiên Rồng của Tổ Tiên lại đặt căn cứ trên Biểu Tượng Tiên Rồng về Con Người – đó là kết tinh của nhận thức hiện thực làm nền tảng cho con người, là mọi người và mỗi Người đều được tạo thành do Mẹ Tiên Cha Rồng phối hiệp. Tất cả, cùng được sinh ra một lần, một lúc, trong Một Bọc Trăm Con, mà chúng ta tự xưng mình là Đồng Bào (Đồng: có nghĩa là cùng, Bào: là cái bọc, tức là anh em ruột thịt, trong cả Nước – Nhà).

Theo dòng thời gian và đà xác tín quý trọng của toàn dân, chữ Tiên Rồng trở thành biểu hiệu cho Hai Vị Tộc Tổ, khai sinh ra giòng giống dân Việt, vào khởi đầu lịch sử nhân loại. Bởi thế mà ngày nay mọi người Việt Nam chúng ta hãnh diện và xưng mình là Con Cháu Tiên Rồng.

Chánh Thuyết Tiên Rồng cũng không xuất phát từ chủ nghĩa, chủ thuyết, triết thuyết, hay một nền tảng học thuyết của tôn giáo nào, mà được Tổ Tiên nhận diện đúng thực Con Người và Cộng Đồng Xã Hội, qua sinh hoạt và tâm tư bộc lộ, cũng như thể hiện nếp sống văn minh văn hóa, trong một xã hội anh em, Xã Hội Đồng Bào, xã hội của Con Người và Làm Người đích thực.

Điểm khác biệt trong Lịch Sử Việt là Tổ Tiên truyền khẩu, truyền miệng, truyền cho nhau ghi nhớ Biểu Tượng Tiên Rồng, ròng rã hàng bao nhiêu đời con cháu, từ đời này qua đời khác, làm nổi bật đặc tính sinh hoạt sống động hiện thực trong nếp sống của toàn thể Dân Tộc Việt, được gọi là Văn Hóa Việt (chớ không phải hệ thống văn từ như đã ghi trong Lĩnh Nam Chích Quái của nhà văn Trần Thế Pháp, mới xuất hiện vào đời Nhà Trần, và được ghi nhận là tác giả viết theo văn hóa thời cuộc, nhằm mang tư tưởng phò thiên triều phương Bắc). Bởi thế, theo cách lưu truyền của Tổ Tiên, thì văn từ hay tư tưởng đã thường bị bóp méo, hiểu lệch lạc ý nghĩa, tùy theo chế độ hiện hành, hoặc theo thời gian mà sửa đổi nội dung, ngôn từ, trong khi biểu tượng thì mang tải ý nghĩa, trước sau vẫn thế.

Chánh Thuyết Tiên Rồng ngày nay được Đảng Tiên Rồng phục hưng và khai sáng nhằm mục đích Giúp Dân Cứu Nước. Chúng ta trao chìa khóa cánh cửa tâm tư cho nhau, để cùng nhau mở rộng cửa kho tàng Văn Hóa Việt, và tìm lại những báu vật là Gia Tài Tổ Tiên để lại cho những ai xưng mình là Con Cháu Tiên Rồng.

Chánh Thuyết chẳng những trung thực, mà còn thích hợp, thích nghi với hiện cảnh sống cho mọi người, mọi lứa tuổi, không phân biệt giới tính hay thời đại văn minh nhân loại, vì chánh thuyết luôn mở rộng cửa đón nhận tất cả những gía trị, tinh hoa tư tưởng trong đời sống nhân sinh, khai triển nếp sống con người, là Đạo Sống Việt trong Xã Hội Đồng Bào, xã hội thân thương bình đẳng, xã hội anh em từ một Bọc Mẹ Trăm Con của truyền thuyết Tiên Rồng.

Chín truyện tích được lưu truyền trong Toàn Dân Việt từ đời này qua đời khác, lại cưu mang những đặc điểm làm nổi bật biểu tượng Tiên Rồng, tức là có hai nhóm đặc tính Tiên và Rồng, được nhận diện nơi Con Người và Cuộc Sống, kế đến là phần cốt truyện, lại nhắc tới thời đại của các Vua Hùng Dựng Nước. Dù rằng trong chín câu truyện ấy, ẩn chứa nhiều tình tiết dị biệt ly kỳ, nhưng vẫn được Ông Bà lưu truyền nguyên vẹn, tinh ròng, cho chúng ta tới thời nay, và bổn phận trách nhiệm của chúng ta là tìm hiểu, khám phá kho tàng Văn Hóa Việt, để tìm lại những báu vật gia tài Dân Nước, bởi thế mà có Đảng Tiên Rồng ra đời, nhằm Giúp Dân Cứu Nước, tổ chức tương quan lực lượng và đấu tranh chính trị với Cộng Sản.

Mỗi truyện tích của Chánh Thuyết Tiên Rồng lại được nhắc nhớ bằng những biểu hiệu tôn quý trong các dịp Lễ Tết của Dân Tộc Việt Nam. Tất cả đã kết tinh quan niệm sống của dân tộc, và liên hợp chặt chẽ với nhau, tạo thành một hệ thống chỉ đạo mạch lạc, sống động và hiện thực, làm nền tảng căn bản cho toàn thể Văn Hóa Việt – tổng hợp và hệ thống hóa này được gọi là Hệ Tiên Rồng, tức là cái nhìn vào thực tế cuộc sống Con Người, đặt căn cứ trên cuộc sống một cách trọn vẹn, và không ra khỏi hay xa lìa cuộc sống con người. Do đó Hệ Tiên Rồng còn được gọi là Sinh Thức Hệ, tức là Chánh Thuyết Tiên Rồng.

Hệ thống biểu tượng Tiên Rồng này không phải do một người, hay nhóm người phát minh sáng chế ra, mà là cả một nền văn hóa đã và đang sống trong lòng Dân Tộc, dù ý thức có khác biệt ít nhiều, tùy người, nhưng Văn Hóa Việt được phát hiện là một hệ thống toàn bích, đang chỉ đạo cho toàn thể cuộc sống Xã Hội Con Người.

Việc tìm hiểu, khảo cứu, áp dụng, ứng dụng để sống thích nghi với hiện cảnh, là cả một tiến trình dài, như bao ngàn năm trường tồn của Tộc Việt – khác biệt với Tộc Hoa – vẫn luôn tiếp diễn, cao siêu và hiện thực, là đặc điểm của Con Cháu Việt. Có thể nói mỗi chữ, mỗi câu, mỗi mệnh đề của Chánh Thuyết Tiên Rồng ngày nay đang biên khảo, thì cũng đang trông chờ cả một thiên khảo cứu về lịch sử văn hóa của Dân Tộc Việt.

Bởi thế cho nên, đây cũng là phần mà mọi người trong chúng ta cần tìm hiểu, học hỏi, thảo luận và đừng quên sự đóng góp thêm những khám phá mới của bạn, của chính bạn vào kho tàng Văn Hóa Chính Trị cao siêu hiện thực và tuyệt vời của Tổ Tiên.

Ðiểm đặc biệt Tổ Tiên để lại, là một hệ thống biểu tượng, chớ không phải hệ thống ngôn từ hay tư tưởng, vì rằng ngôn từ, tư tưởng thường bị tuyên truyền lệch lạc bóp méo nội dung hay ý nghĩa bởi mưu đồ danh lợi của nhà cầm quyền, chế độ hay thời gian. Nhưng ngược lại, biểu tượng thì trước sau vẫn thế, vẫn còn nguyên vẹn tinh ròng dù cho trải qua ngàn đời con cháu, và cứ tùy thuộc thời đại mà chúng ta dùng ngôn từ thích hợp mà diễn tả biểu tượng, như trong Thời Đại Tín Liệu (Information Age) của nhân loại hôm nay.

Trong mỗi bài chánh thuyết của dân tộc, là ghi chép lại những điểm chính yếu, cưu mang bài học của Tổ Tiên. Dĩ nhiên, với thời gian cùng với sự phù trợ của Đức Quốc Tổ và Hồn Thiêng Sông Núi, chúng ta sẽ có bản văn hoàn hảo, đúng thực và trọn vẹn, vì do đón nhận sự đóng góp ý kiến của nhiều người, của toàn dân.

Diễn giải chánh thuyết, là phần có tham vọng đào sâu, tìm hiểu hệ thống biểu tượng tới tận ý nghĩa, và cố gắng đạt đến điểm tột cùng của suy tư có thể có. Do đó phần diễn giải, đôi khi trở thành khó hiểu, cho một số người đọc. Tuy nhiên, bạn đọc có thể căn cứ vào lịch sử, vào đời sống dân nước mà rút ra những thí dụ cụ thể, những gương sống thực của các vị Minh Quân, Văn Thánh - Võ Thần, mà cùng giúp cho nhau học hỏi, thông toàn bài học của Tổ Tiên.

Sau phần diễn giải là phần Tìm hiểu chánh thuyết. Tiên Rồng được gọi là bài học Nền Tảng, vì trong đó chúng ta có nhận diện, có định nghĩa về Con Người và Xã Hội một cách hoàn chỉnh, toàn diện và đúng thực. Phần bài này được coi là đúc kết những nét đặc thù của Văn Hóa Việt, khai thác hết những nét đặc thù đó chúng ta có hệ thống tư tưởng chỉ đạo sống động và hiện thực, gọi là Hệ Tiên Rồng, qua nguyên lý Tiên Rồng Song Hiệp, để áp dụng vào cơ cấu tổ chức xã hội con người, như biểu tượng Bọc Mẹ Trăm Con.

1. Tiên Rồng: 
Bài học nền tảng bởi Tổ Tiên đề ra nguyên lý sinh hóa của vạn vật, đặc biệt căn cứ trên con người, tức nguyên lý Tiên Rồng Song Hiệp Hoàn Chỉnh. Với bài học Tiên Rồng, chúng ta có được định nghĩa về con người hoàn chỉnh toàn diện, đúng thực: Thân – Trí – Tâm – Tuệ (Thân xác sinh động, Trí năng tinh biến, Tâm tình thông hiệp, Tuệ linh vĩnh cửu) của con người do Mẹ Tiên Cha Rồng song hiệp. Và từ nguyên lý mà chúng ta khai triển thành nguyên tắc áp dụng vào việc tổ chức Đảng Tiên Rồng như Cánh Kinh Thương, Cánh Thanh Niên, Cánh Xã Hội và Cánh Chính Trị của một Hoa Tiên Rồng, tức là có hai đơn vị tương đồng trong một tổ chức gọi là Tiên Rồng song hiệp.

Đặc biệt, Con Người Tiên Rồng, chúng ta khác biệt với những Con Người của nền văn hóa duy vật, duy lợi, duy tâm, duy linh đang làm tha hóa con người, và con người biến thành sinh vật kinh tế, con thú tiến bộ, động vật lao động trong hãng xưởng, và chi phối bởi cơ quan truyền thông rộn ràng hàng ngày.

Văn hóa và tổ chức ba góc theo hình Kim Tự Tháp trước mắt, chúng ta nhận ra đó là tổ chức chủ nô, trên là chủ nhân – dưới là nô lệ, trên là đảng trị – dưới là bị trị, cho dù cổ súy Chân – Thiện – Mỹ mà thiếu Tình thì chỉ là con người khiếm khuyết hạnh phúc.

Đang khi trong Truyền Thuyết Việt, Tổ Tiên lại nhận diện Con Người Tiên Rồng một cách đúng thực, và cộng đồng xã hội là Đồng Bào, là anh em từ Một Bọc Trăm Con của Mẹ Tiên Cha Rồng, tức là biểu trưng cho một xã hội bình đằng tột cùng và thân thương tột cùng. Tiên Rồng đưa ra ý niệm về các đặc tính cá biệt của Tiên, của Rồng, và mẹ Tiên cha Rồng đã phối hiệp toàn nhất tương đồng. Bởi thế Tiên và Rồng là kết tinh toàn vẹn cho mọi tương quan sinh họat của con người, tương quan anh em nhằm thể hiện Con Người Tiên Rồng.

Biểu tượng Một Bọc Trăm Con của Chánh Thuyết Tiên Rồng đã khẳng định Đặc Tính Xã Hội bẩm sinh và ngay cùng một lúc có trăm con người, cũng do kinh nghiệm của cuộc sống gia đình, với mẹ với cha, với anh chị em qua hình ảnh của tổ chức trăm người trăm việc – mỗi người mỗi việc, chớ không bao đồng công tác hay dẫm chân lên nhau.

Trong cuộc sống, con người nhận ra mình không thể sống đơn độc, mà ngay từ lúc bắt đầu sự sống, con người cần có mẹ có cha, có sự chăm sóc bảo bọc của tình thân ruột thịt anh chị em. Vì nếu sống đơn độc, con người không thể phát triển toàn vẹn về cuộc sống xứng đáng là người và làm Người. Do kinh nghiệm từ đó con người nhận ra mình vừa là một hiệp thể cá biệt toàn vẹn, mà cũng vừa là một thành phần cộng đồng xã hội anh em, và vừa cùng chung một nguồn sống Mẹ Tiên Cha Rồng.

Cũng do kinh nghiệm của cuộc sống trong tình thân với cha mẹ anh chị em, con người nhận ra mình cũng có cùng một nguồn gốc, cùng một sức sống, và cùng chia sẻ cuộc sống với nhau, trong nhau và cho nhau. Con người rút tỉa kinh nghiệm cuộc sống từ bản thân, quây quần trong gia đình, tuy thế cuộc sống cũng không đóng khung trong tập thể hạn hẹp, mà đã mở rộng với nhiều con người khác nữa. Vì vậy hai truyền thuyết Chử Đồng và Trầu Cau đã ghi nhận kinh nghiệm do cuộc sống đông người, tức xã hội anh em, Xã Hội Đồng Bào.

2. Trầu Cau: 
Bài học Trầu Cau chia sẻ trực tiếp với bài học Tiên Rồng, là rút tỉa hình ảnh từ Bọc Mẹ Trăm Con ra “hai anh em sinh đôi, giống nhau như đúc, thương nhau rất mực và chưa hề lìa nhau” để ứng dụng vào đời sống con người, bằng Nếp Sống Tiên: Thân Thương Tột Cùng của Con Người. Bài học Trầu Cau đã đặt nền tảng tương quan giữa người với người. Nghĩa là “thương nhau trọn tình, sẵn sàng chết vì thương, mà dẫu có chết cũng vẫn còn thương.” Tương quan anh em và tương quan vợ chồng trong một tổ chức.

Vì là nền tảng tương quan giữa người và người, nên cũng là nền tảng cho Xã Hội Con Người, được tổ chức từ gia đình, gia tộc cho tới cấp dân tộc hay cấp nhân loại theo nguyên lý Thân Thương Tột Cùng. Từ lời linh huấn của Tổ Tiên quá thâm thúy diệu vời đó, cho nên chúng ta đã nhìn nhận xã hội Việt trong đó có bao tấm gương sáng ngời: nào là lòng mẹ bao la như biển Thái Bình, thiếu phụ Nam Xương, Anh phải sống, nuôi chồng trong tù cải tạo của cộng sản, và thành tín với vợ, chung thủy đợi chờ ngày đoàn tụ, dù tới chết cho gia đình hay chết cho quê hương thì cũng vẫn còn thương: “Tình nhà tình nước chết chưa hết tình!”

Cũng do kinh nghiệm cuộc sống thân thương của gia đình, con người nhận ra tình cảm giữa người với người, được xuất phát từ việc chúng ta nhìn nhận nhau là Anh Em, Giống nhau như đúc, và từ tâm thức ấy mà Quyết chẳng lìa nhau. Tình yêu thương ruột thịt đó lại nhận thêm nhiều kinh nghiệm khi gia đình có thêm những người xa lạ, như người Anh trong truyền thuyết Trầu Cau cưới vợ, và cùng sống chung với người Em dưới một mái ấm gia đình.

Với cuộc sống đầy biến chuyển và trắc trở hiện nay, con người nhận ra rằng, tình thân thương chỉ tồn tại khi ta sẵn sàng đánh đổi cả cuộc sống mình cho những người mình mến thương, Sẵn sàng chết cho nhau, chết vì người thương. Và rồi dù yêu thương nhau khắng khít, dù vượt thắng mọi trở ngại để bảo vệ tình thân thương, con người cũng trải qua kinh nghiệm qua sự chết, qua việc người thân vĩnh viễn chia lìa bởi đi tìm nhau mà chết, hóa thành trầu thành cau hoặc thành đá vôi.

Nhưng cũng do chính kinh nghiệm thăng hoa thành đá, trầu hay cau đó, do lòng thương nhớ không nguôi, con người lại cảm nhận là sự chết chẳng những không chấm dứt hoặc ngăn cản, mà trái lại, còn giúp chúng ta thể hiện trọn vẹn tình Thân Thương Tột Cùng, Mãi mãi có nhau, và khi đó không còn bất cứ gì có thể ngăn cản chúng ta kết hợp với nhau trong yêu thương, trong bảo bọc, trong tình nghĩa đồng bào.

3. Chử Ðồng: 
Nếu như bài học Trầu Cau trong Chánh Thuyết Tiên Rồng, rút tỉa từ “Bọc Mẹ Trăm Con” ra hai anh em, hai con người để áp dụng nguyên lý “Thân Thương Tột Cùng” của Nếp Sống Tiên, thì để dạy bài học “Bình Ðẳng Tột Cùng” và làm sáng tỏ Nếp Sống Rồng, Tổ Tiên lấy lại hình ảnh Tiên Rồng trong cặp Tiên Dung – Chử Đồng. Công Chúa Tiên Dung là người đẹp, giầu, sang được mọi người yêu thương kính trọng, quyền thế cao cả tột cùng trong xã hội – Chúng ta thường nói sướng như tiên, theo chữ nho, chữ nhân ghép với chữ sơn thành chữ tiên, tiên là người ở núi, núi của, vật chất.

Cô Gái Việt tuổi trăng tròn thì chỉ có người thương mến qua dung nhan xinh đẹp, tính tình hiền hòa, ăn nói mặn mà có duyên. Bởi Vua Cha còn có người không ưa, nhưng Công Chúa thì lại được cả triều thần quý trọng, khiến bao trai thanh gái lịch thầm mơ kết bạn với nàng!

Giờ đây Công Chúa Tiên Dung quả là tiên giáng trần, viếng thánh địa nơi chàng rồng Chử Ðồng đói khổ, lang thang bên bờ sông bãi sú kiếm ăn. Chàng nghèo đến nỗi có cái khố (cái quần đùi), mà vì hiếu thảo với cha nên Chử Đồng cởi ra để liệm cho cha chàng lúc người lìa trần. Rồi sau đó chàng phải đành sống với cảnh tồng ngồng (không mặc quần) không khố! Nghèo tới cỡ đó là cùng! – Chử Đồng quả thực đang biểu hiện cho phần tinh thần, linh thiêng. Tiên Dung là biểu hiệu của phần của cải, vật chất… và khi Tiên Rồng song hiệp! Hai thành phần linh thiêng và vật chất trong con người đều được thăng hoa!

Tổ Tiên muốn dạy chúng ta điều gì vậy? Vâng, muốn sống với nhau, trước tiên chúng ta phải Thấy Nhau bằng con người thật, con người tinh tuyền, con người không bị lụa là gấm vóc vàng bạc, vật chất tài của che phủ… Quan niệm này đã khác biệt với những con người của xã hội đương đại vì họ lấy vật chất mà đo lường giá trị con người, chớ họ không nhìn nhận, không thấy nhau bằng con người thật như lời Tổ dạy.

Mặt khác, chàng là rồng thì ẩn mình trong lòng đất (thủy phủ) để chờ đợi cho tới khi công chúa Tiên Dung vây màn tắm gội... Nàng từ trời xuống, chàng từ đáy sông lên... Nàng giầu sang tuyệt thế, chàng tệ hơn khố rách áo ôm! Xin hỏi, có ai hơn công chúa và ai thua chàng không khố… thế mà nên duyên, mà song hiệp, mà hoàn chỉnh… thì thử hỏi, xã hội này còn kẽ hở nào để mà phân cách, mà phân ngôi định cấp, phân chia giai cấp hay đấu tranh giai cấp?

Chính nhờ sự Song Hiệp Tiên Rồng đó, con người mới được hạnh phúc. Tiên Dung Chử Ðồng đã giúp dân. Họ có cả một chương trình phát triển xã hội: giáo hóa dân chúng (dạy dân phép tiên), phát triển kinh tế (lập phố xá), ngoại thương (ra biển đi buôn), phát triển giao dịch, lưu thông (gậy thần rút đất)… và rồi khi họ Về Trời, dân chúng cũng được về theo, nghĩa là tất cả cũng được thành tiên… đẹp như tiên, sướng như tiên, hạnh phúc cực lạc!

Nhìn lại cuộc sống càng kéo dài và càng có đông người, thì con người càng thêm kinh nghiệm về những khác biệt trong tài năng, trong sức lực, cũng như trong may rủi, bất toàn của cuộc đời… như kinh nghiệm của Tiên Dung và của Chử Đồng. Do đó, do kinh nghiệm đối xử với nhau, và do tâm tình muốn bảo đảm cuộc sống tốt đẹp cho hết mọi người, con người nhận ra rằng mỗi người phải Nhận thực chính mình.

Khi đã biết rõ thân phận Con Người của mình, mỗi người lại phải nhìn nhận và sống với những con người khác như những con người tinh vẹn, không để bất cứ ngọai vật nào làm sai lạc hình ảnh đích thực của con người. Chỉ thấy con người. Cũng do kinh nghiệm san sẻ trong tình thân, con người nhận ra cách sử dụng thích đáng tài năng và của cải. Tài và của chỉ là những phương tiện để gíup nhau cùng phát triển, Tài của giúp người, để tất cả Mọi người cùng hưởng hạnh phúc và thăng tiến, không trừ ai. Những kinh nghiệm sống đó, Tổ Tiên đã gói ghém tuyệt vời trong truyền thuyết Chử Đồng.

Nhắc tới đây, chắc chắn có nhiều bạn đọc hiểu nhiều về chi tiết Văn Hóa Việt hơn cả người viết… còn bao điều muốn nói nữa, nhưng mà làm sao mà nói hết được. Vì mỗi con cháu Việt – Con cháu của Tổ Tiên dòng giống Tiên Rồng siêu việt như các bạn đọc – với tâm hồn Việt, với máu huyết Việt luân lưu trong chính con người của bạn, đó là cả một kho tàng Văn Hóa Việt tiềm ẩn trong bạn, xin bạn hãy tự khai thác Gia Tài Tổ Tiên trong bạn?

Sau ba truyền tích làm Nền Tảng cho con người và cuộc sống con người trong xã hội, Tổ Tiên dạy chúng ta về một cơ cấu quan trọng nhất, đã chi phối mạnh mẽ tới đời sống con người, đó là Nước, là quốc gia, là chính quyền hay cơ quan công quyền.

4. Tiết Liêu: 
Nếu như bài học Chử Ðồng đề ra nguyên tắc Phát Triển Xã Hội, thì bài học Tiết Liêu dạy việc Thịnh Nước An Dân. Vua Cha muốn truyền ngôi dạy chúng ta dâng lễ vật thờ cúng tổ tiên, trong khi nhiều nền văn hóa khác lại dạy phải kiếm nhiều thủ cấp của dân láng giềng, hay mang quân xâm chiếm những quốc gia khác làm thuộc địa. Và Tiết Liêu vì hiếu, thà lo cho mẹ hơn là làm vua, nên chàng ở nhà phụng dưỡng cha mẹ và Cầu Tổ… Đang khi những hoàng tử khác thì bôn ba cầu ngoại viện và mang tinh thần vọng ngoại bởi thiếu quan niệm sống Phúc Đức.

Tiết Liêu Cầu Tổ và được Tổ chỉ dạy cách làm bánh dày bánh chưng mang trọn ý nghĩa và mục đích của người làm chính trị lãnh đạo toàn dân, rồi chàng được làm vua! Ðó không phải là nền tảng chính trị An Dân Thịnh Nước sao?

Tiết Liêu có tinh thần dân tộc (thờ cúng Tổ Tiên), hiếu thảo (gia đình là gốc của nước, như trong Trầu Cau), không màng giầu sang, nhưng biết lo cho dân (lấy gạo làm căn bản sống của dân), có sáng kiến, phát triển kinh tế (gạo nấu cơm để lâu dễ bị thiu, nhưng làm thành bánh dày bánh chưng thì để được cả tháng trời)… lại đủ đạo Trời đạo Ðất (tròn, vuông)… Con người như thế không đáng thịnh nước an dân?

Theo Lời Tổ mà chàng làm bánh, tức là đem hết tâm thành và tài sức thực hiện theo truyền thống siêu việt của dân tộc, thì chẳng những Tiết Liêu làm ổn định đời sống người dân, mà còn biết sử dụng quyền lực để bảo đảm và giảm bớt những ngăn cách trong cuộc sống chung. Chàng rồng này dùng luật lệ giúp mọi người thực sự san sẻ tài năng và của cải của dân nước nhằm thoát nạn cuộc sống quá cách biệt giầu nghèo, tham nhũng bóc lột, áp bức bất công như trong xã hội Cộng Sản hiện hành!

Dấu chỉ của độc tài thống trị là việc gây hận thù và đấu tranh giai cấp, nhằm mục đích là chia để trị, làm phân tán nhân dân, làm cho người dân trở thành dân oan và cò đất, làm người dân trở thành bơ vơ cô độc trước quyền lực cai trị của đảng Cộng Sản để thâu tóm đặc quyền đặc lợi. Chớ không phải là việc làm thịnh nước an dân như Tổ Tiên truyền dạy bài học chính trị Tiết Liêu này.

Tuy rằng dùng quyền lực cũng có thể gây phiền toái cho một số kẻ thích ăn trên ngồi trốc, nhưng quyền lực luôn luôn cần thiết để bảo đảm cuộc sống chung tốt đẹp, và nhờ toàn dân cùng kiến tạo cuộc sống chung, cộng đồng đồng tiến, hòa hợp đoàn kết để xây dựng một Xã Hội Đồng Bào. Cho nên toàn dân trở thành một khối đồng nhất theo nguyên tắc đồng thuận với chính quyền nhằm kiến tạo cuộc sống đầy hương vị, đầy chất dinh dưỡng và tồn tại lâu đời.

Tiết Liêu được Tộc Tổ chỉ dạy, chính là người làm việc nước phải để Hồn Nước hướng dẫn, tức là phải học hỏi, phải thấm nhuần tinh thần và truyền thống dân tộc, thấm nhuần Chánh Thuyết Tiên Rồng. Và do đó, làm việc nước cũng có nghĩa là làm cho người dân thể hiện Hồn Nước vào cuộc sống hằng ngày.

Như thế cái tài của người làm việc nước là: Tài biết tin tưởng vào dân nước, tài giúp dân sống thực truyền thống dân tộc, tài thấu hiểu nhu cầu thực tế của dân, và tài cải tiến cuộc sống người dân. Trong những tài này, tài cải tiến cuộc sống người dân là công tác thực tiễn và đa đoan.

Người làm Việc Nước như Tiết Liêu, chẳng những phải nấu xôi chín, tức là phải làm cho cuộc sống người dân đầy đủ đúng mức, mà còn phải cố gắng quết giã cho tất cả trộn lẫn vào nhau, tức là phải dùng quyền lực làm cho mọi người cùng nhau chia sẻ cùng một cảnh sống. Và có như thế xôi mới quánh lại một khối thơm ngon. Tổ Tiên chỉ dạy công tác chính trị minh bạch rõ ràng, quang minh chính đại!

5. An Tiêm: 
Chuyện quả dưa đỏ cũng hình thành bài học tương tự! Thà bị Vua Cha đày oan còn hơn phải trốn theo tầu buôn mà về đất liền làm giặc… Nhưng khi có quả dưa đỏ, dưa hấu, một loại của ngon vật lạ nơi hải đảo đã gởi về dâng vua, biếu nước! Và từ đó dân ta, đặc biệt nơi miền khô cháy nóng bỏng, được thêm món ăn tươi mát thơm ngon… Chàng chẳng đáng mặt trị nước an dân?

Dưới khía cạnh kinh tế, chúng ta có thể nói, bài học Tiết Liêu phát triển trên đất, nội địa… thì bài học An Tiêm phát triển vùng biển, ngoại thương… và đừng quên bài học Chử Ðồng!

Việc phát triển Nước của Chử Đồng thì người chủ động là nàng Tiên – Tiên Dung. Nhưng trong việc phát triển Làng, tuy cũng là Tiên Rồng nhưng phần chủ động và đặc trách công tác lại khác biệt nhau. Nàng “Tiên” Tiên Dung chủ động trong việc Phát Triển Nước, có nghĩa là trong việc nước yếu tố Trường Cửu, truyền thống dân tộc và lòng dân với nước là chính yếu, là động lực, là vận động toàn dân xây dựng và kiến thiết quốc gia.

Nhưng việc Làng, trong đời sống người dân tuy phải có phần sức sống tinh thần chung của dân tộc, nhưng chàng Rồng – An Tiêm là chủ động, có nghĩa là nhấn mạnh tới cuộc sống thực tế, tới tài năng và của cải trước mắt. Trong việc làng của Rồng thì nhấn mạnh tới yếu tố Biến Hóa.

Truyền thuyết An Tiêm còn nhấn mạnh An Tiêm là con nuôi của vua, và bị đày ra đảo hoang. Trước hết An Tiêm được Tổ Tiên giới thiệu quan niệm đặc biệt về vị trí của người dân. Bị đày ra đảo hoang sống xa cách mọi người, và An Tiêm phải tự lực cánh sinh, phải tự túc tự cường trong mọi việc, từ sinh sống hằng ngày cho tới việc thích nghi và mọi quyết định lớn bé to nhỏ. Tất cả phải do chính chàng rồng An Tiêm định liệu, cũng như phải gánh nhận trách nhiệm và hậu quả.

Tổ Tiên đã giới thiệu nếp sống đặc biệt của Làng Thôn Việt Nam. Khác biệt với tổ chức chính trị của các văn hóa khác, quyền hạn vua quan Việt chẳng những không can thiệp vào đời sống từng người, mà cũng không xâm phạm vào nếp sinh hoạt của làng thôn.

Đối với triều đình, mỗi làng được xem là một đảo ngoài biển khơi và trong làng thì người dân phải tự quyết tự lập cho chính mình. Đây chính là chế độ tự do dân chủ thực sự của làng xã Việt, bởi “Phép vua thua lệ làng!”.

Tất cả đều là kinh nghiệm sống và tất cả đều phát xuất từ tình thân ruột thịt gia đình, từ mẹ, từ cha, từ anh chị em đối xử với nhau. Và cũng vì vậy, mọi cuộc sống mang vết tích con người, mọi cuộc sống xứng đáng con người, mọi cuộc sống tràn đầy ý nghĩa, mọi cuộc sống tòan vẹn đều là những cuộc bộc lộ và thể hiện tình thân giữa người và người. Bởi thế, Văn Hóa Việt bao gồm mọi con người trong tình thân của Gia Đình. Đối với nếp sống Việt, Làng, Nước và cả Nhân Loại, cũng chỉ là một gia đình! Vua với dân cũng đối xử với nhau trong tình đồng bào, tình gia đình, tình anh em từ Một Bọc Trăm Con mà ra.

Mặt khác, nếu chỉ để thu tích của cải lợi lộc vật chất, dù dưới bất cứ hình thức nào như chủ trương của xâm lăng, đế quốc, phong kiến, thực dân, tư bản hay cộng sản thì chẳng những không giúp ích gì cho con người, mà còn làm cho chúng ta thêm khốn khổ, biến chúng ta thành nô lệ, thú tiến bộ, sinh vật tiêu thụ hay động vật lao động. Do đó, phải thực hiện trọn vẹn Tiên Rồng thì mới thực sự mang lại ơn ích cho con người.

Làng Nước Việt Nam là một cơ cấu sinh hoạt tự do tự lập. Với nếp sống thân thương và bình đẳng, làng thôn tự thành nơi bảo toàn lực lượng dân quân, bảo vệ và nung đúc tinh thần yêu nước của mọi người, và cũng là nơi bảo tồn đời sống tự do dân chủ thuần túy, ngay trong thời bình cũng như thời loạn.

Làng Xã Tự Chủ:

Đặc tính nền tảng của Định Chế Làng Nước là người dân tự ý tới ở và quy tụ thành làng. Tuy cách khởi lập có khác nhau, nhưng điều kiện tiên quyết trong việc Dựng Làng là nhắm tới lợi ích và sự tự quyết của những người quy tụ, chớ không ai dùng quyền hành mà bắt buộc ai.

Làng được thành lập không chỉ vì lợi ích vật chất, biến nơi khô cằn hoang vu thành miền phì nhiêu trù phú, mà còn vì lợi ích tinh thần. Làng giúp cho người dân thoát nạn sống cảnh bơ vơ thiếu nơi nương tựa, trái lại đã giúp cho mọi người có được cuộc sống ấm no xum vầy trong một Xã Hội Đồng Bào.

Nếu chỉ để thu tích của cải hay lợi lộc, dầu dưới bất cứ hình thức nào, như chủ trương của xâm lăng, của đế quốc, của phong kiến, của tư bản hay cộng sản… thì chẳng những đã không giúp ích gì cho Dân Tộc, mà còn làm cho Dân Tộc thêm khốn khổ, biến Dân Tộc thành nô lệ hay thành thú vật, máy móc.

Tụ họp thành làng, mọi người chia sẻ cảnh sống vui buồn sướng khổ có nhau, giúp nhau vượt thắng những khó khăn, cùng nhau gánh vác trách nhiệm, cùng nhau xây đắp cho đời, cho làng cho nước ngày thêm giầu đẹp. Và cũng không một thường dân nào bị bó buộc phải cư trú tại một nơi nhất định; dân chúng có thể tùy thích tới ở hay tự ý bỏ đi, miễn là tự quyết và chấp nhận Lệ Làng là nơi mình muốn gia nhập cư ngụ.

Khác với tổ chức chính trị của nhiều quốc gia, quyền hạn vua quan Việt chẳng những không can thiệp vào đời sống từng người dân, mà cũng không xâm phạm vào nếp sống sinh hoạt của các làng thôn. Đối với triều đình, mỗi làng Việt là một quốc gia thu hẹp có chủ quyền và độc lập; việc làng thì dân chúng tự lập và tự quyết.

Làng tự lập đến nỗi chẳng những có một ban quản trị riêng, do chính dân bầu ra, mà còn có cả những điều lệ riêng cho hệ thống hành chính của làng. Làng có một ngôi đình để thờ vị Thành Hoàng riêng, với những nghi thức do truyền thống riêng. Làng có cả tổ chức trị an riêng, với những tiêu chuẩn thưởng phạt do làng quy định. Dĩ nhiên làng cũng có tài sản riêng, và toàn quyền sử dụng ngân sách tài chánh theo nhu cầu.

Trong phạm vi làng, cả quyền phép của vua quan cũng kiêng nể những điều lệ riêng này. “Phép vua thua lệ làng”… Bởi thế không còn có chế độ nào trực tiếp do dân, của dân, vì dân… hơn thể chế dân chủ làng nước Việt.

Đang khi Cộng Sản đã coi thường và xóa bỏ Định Chế Làng Nước, xem toàn dân làm nô lệ, tự do bị tước đoạt, nhân quyền bị chà đạp, truyền thống tự do dân chủ bị thủ tiêu. Người dân hôm nay chỉ còn có quyền đi bầu cử, theo hình thức bịp bợm lòe loẹt qua cái gọi là “Hiến Pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”.

Tất cả mọi quyền hành, kể cả tuyển chọn người đại diện cho dân, đều nằm trong tay những nhóm đặc quyền hay lợi ích. Và nhóm người đặc quyền đặc lợi này tự đặt ra luật pháp, sửa đổi luật pháp, và áp dụng luật pháp để giúp cho đảng Cộng Sản hưởng lợi. Xin hỏi Dân Tộc Việt Nam thực sự được gì? Quốc Gia Việt Nam thực sự là gì? Tất cả, phải chăng đã là vết hằn của một chế độ Cộng Sản khiếm khuyết, lỗi thời và cần phải được thiêu hủy để đưa mọi người trở về sống với cội nguồn Dân Tộc.

Định Chế Làng Nước:

Khi góp phần vào việc nước, làng là đơn vị đại diện người dân. Trong truyền thống chính trị Việt, người dân không trực tiếp với vua quan mà qua làng. Trong tất cả mọi việc, từ tiếp xúc, lệnh truyền, tới sưu thuế, lính tráng… của nước chỉ cần căn cứ vào làng, liên lạc với làng, và theo khả năng của toàn làng mà định phần đóng góp.

Do đó, làng là đơn vị nền tảng của cơ cấu chính trị, của chính quyền, của nước. Đang khi gia đình là đơn vị nền tảng của xã hội, của cộng đoàn, của dân tộc.

Khác biệt với nhiều thể chế chính trị như hiện nay, người dân không phải đơn độc đương đầu trực diện với cơ quan quyền lực, mà còn được bà con thân thuộc của làng nước xóm giềng chia sẻ, trợ giúp, bù đắp, bảo bọc… Miễn là sao mà làng chu toàn được công tác chung, việc nước.

Đối với người dân, làng trở thành một bước tường che, một mái ấm, một bảo đảm vừa vật chất lại vừa tinh thần, vừa thực tế lại vừa pháp lý.

Nhìn chung, làng thôn Việt Nam không phải là nếp sống ngẫu nhiên, mà đã được Tổ Tiên tạo thành một thể chế chính trị rất độc đáo, nhân bản và tuyệt vời, gọi là Định Chế Làng Nước.

Tổ Tiên cũng phân biệt rõ ràng hai loại công tác chính trị: Việc Làng và Việc Nước. Việc làng việc nước là hai việc khác biệt, khác biệt từ phần chủ động tới mức độ dấn thân, khả năng tài trí và các vấn đề nhu yếu khác. Bởi thế chúng ta có hai loại công tác làng và công tác nước.

Người dân ai cũng có thể làm việc làng, và ai cũng có quyền can dự vào việc tổ chức, điều hành, bầu cử, hay quyết định của làng. Nhưng để đủ tầm vóc để làm việc nước thì người đó phải học hành ở trường sở, phải thông thạo những khoa chính trị “Thịnh Nước An Dân,” và phải thi cử (thi hương, thi hội, thi đình…) để xác định khả năng tài trí.

Vẫn biết bất cứ nơi nào, bất cứ thời nào cũng có những kẻ sẵn có ưu thế và muốn củng cố thêm quyền lực hay địa vị. Nhưng Văn Hóa Việt và Đại Chúng Việt luôn quyết tâm sống thực, bảo vệ và kiện toàn định chế tuyệt hảo này qua mấy ngàn năm lịch sử.


Please to comment

NGUYỄN QUANG HÒA

110 Credits Price: USD/hr
  • Location:
  • Gender:
  • Male
  • Languages:
  • Vietnamese
  • Transports:
  • Bus
    Car
    Train
    Motorcycle
    Foot
    Boat
    Bicycle
  • Availability:
  • Day
    Night
    Weekday
    Weekend
  • Interest:
  • Travel
    Business
    In English
    Education
    Lifestyle
    Sports
    Religion
About me:

Friend list (17)