Status of Phan Thành Khương (ít dùng)

Phan Thành Khương (ít dùng)

575 Credits Price: USD/hr
  • Location:
  • Vietnam - Ninh Thuận
  • Gender:
  • Male
  • Languages:
  • Vietnamese
  • Transports:
  • Motorcycle
  • Availability:
  • Weekend
  • Interest:
  • Travel
    In English
    Education
    Lifestyle
    Sports
    Religion
About me:

Friend list (50)

“Thư thất điều” của Phan Châu Trinh, một bản cáo trạng đanh thép, hùng hồn

Phan Châu Trinh (9/9/1872 – 24/3/1926) là Nhà cách mạng, Nhà văn, Nhà thơ, Nhà văn hóa lớn của Dân tộc Việt Nam. Tất cả những lời nói, bài viết và hành động của Ông đều nhằm đấu tranh cho một Quốc gia Việt Nam Độc lập, Tự do, Dân chủ và Phồn vinh.

Tuy được trui rèn trong môi trường Nho học nhưng Phan Châu Trinh đã sớm nhận thức được sự lạc hậu của thể chế phong kiến chuyên chế, sự ưu việt của thể chế dân chủ, tự do. Bởi vậy, hơn ai hết, Phan Châu Trinh đã kịch liệt phê phán thể chế phong kiến chuyên chế, mạnh mẽ lên án vua quan phong kiến thối nát, bạo tàn.

“Thư thất điều” được Phan Châu Trinh viết ngày 14 tháng 7 năm 1922 để gửi cho vua Khải Định nhân dịp vua Khải Định sang Pháp, dự cuộc đấu xảo tại Marseille.

“Thư thất điều” được viết bằng chữ Hán. Phan Châu Trinh đã tự dịch ra quốc ngữ và nhờ người dịch ra tiếng Pháp để đăng trên các báo Pháp. Tác phẩm dài 28 trang A4, gồm: phần mở đầu nêu lí do và mục đích viết thư, phần chính liệt kê 7 tội của vua Khải Định, phần kết gút lại những nội dung chủ yếu và phần bị chú ghi chú về cách thức viết thư, cách thức xưng hô, cách chấm câu.

Tuy mang hình thức thư nhưng “Thư thất điều” thực chất là một bản cáo trạng, một bản án. Trong “Văn tế Phan Châu Trinh” (Huế, 1926), Phan Bội Châu đã viết về “Thư thất điều” như sau:

“Thư thất điều đón giá như Tây, uy sấm sét chẳng kinh cùng chẳng hãi.”

Đúng vậy, “Thư thất điều” chỉ có thể được viết bởi một người nhiệt thành yêu Nước thương Dân, kiên cường, dũng cảm như “Lời nhà xuất bản” Anh Minh (Huế, 1958) đã nêu:

“Giữa thời đại quân chủ đang thịnh hành, sau lưng thêm bọn thực dân ôm ấp, thế mà Tây Hồ (1) tiên sinh đường đường tại Paris gửi ngay cho vua Khải Định bức thư nầy, trong lúc nhà vua hôn ám sang xem cuộc đấu xảo tại Marseille năm 1922, mạt sát tàn tệ, vạch ra 7 tội, làm cho nhà vua khiếp hồn, đình thần le lưỡi”.

Ba chữ “Thư thất điều” khiến ta liên tưởng ngay đến “Thất trảm sớ” của Chu Văn An (1292-1370). Nhưng “Thất trảm sớ” chỉ là kêu xin nhà vua chém 7 nịnh thần còn “Thư thất điều” là bản luận tội, bản cáo trạng, kết án một ông vua đang trị vì.

A. MỞ ĐẦU

Ngay đầu bức thư có một không hai này, Phan Châu Trinh đã xác định: “Tôi là người yêu bình dân chủ nghĩa, ghét chuyên chế quân quyền, đau đớn vì quan lại tham lam, thương xót vì dân sinh khốn khó. Vậy nên tôi sẵn lòng liều cả thân mạng tôi, ra gánh vác việc đời, trông mong có cứu lại cuộc hiểm nghèo được chút nào chăng!” (*).

Tiếp đó, tác giả nêu những chủ trương đúng dắn, cần kíp như lập trường dạy tiếng Tây (Pháp) và chữ quốc ngữ, bày ra hội thương, hội nông, thay đổi cách ăn mặc, ... nhưng: “Thế mà triều đình nước ta, từ trên đến dưới, cứ khư khư cố giữ lấy thói chuyên chế cũ để hà hiếp dân ngu, cướp lấy lợi riêng cho mình; ghét việc thay đổi như cừu thù, coi nhân dân như rơm rác, tìm cớ bới việc, phá phách đủ đàng, làm cho lòng dân ai ai cũng tức giận, để mà giết hại những kẻ thông minh lương thiện trong nước.”

Vì vậy, theo Phan Châu Trinh, chỉ có một giải pháp duy nhất là: “Chúng ta bây giờ cần phải đánh thức nhau dậy, chúng ta phải đồng lòng hiệp sức mà chống cự với lũ vua dữ quan nhơ, chúng ta phải phá nó cho tan, đạp nó cho đổ; chúng ta lại lấp tận nguồn, cắt tận rễ, làm cho tiệt hẳn cả cái sức ma quỉ chuyên chế, nó đã ám ảnh chúng ta mấy ngàn năm nay, nếu mà không làm như thế thì không bao giờ trông thấy ánh sáng mặt trời mặt trăng nữa!”

Để kết lại phần nêu lí do và mục đích viết thư, Phan Châu Trinh khẳng định: “Theo luật hiến pháp các nước văn minh trong đời bây giờ, vua nào trái phép, dân có quyền cứ luật mà bắt tội. Tuy ngày nay dân quyền nước Nam còn bị đè nén, hiến pháp còn chưa thành lập, song cứ theo lẽ công bình chung trong đời nay, Bệ hạ không sao mà gỡ tội với dân chúng tôi được.

Nay tôi trích ra bảy việc quan hệ thứ nhất đến dân đến nước chúng tôi, bảy việc đó là bảy tội của Bệ hạ, tôi sẽ xét đoán bắt buộc như sau nầy, khi Bệ hạ được thư nầy thì Bệ hạ phải tự xử lấy.”

B. BẢY TỘI CỦA VUA KHẢI ĐỊNH:

I. TỘI TÔN QUÂN QUYỀN:

Phan Châu Trinh đã trích dẫn hàng loạt câu nói của Khổng tử, Mạnh tử và những thực tế trong lịch sử Âu Á rồi Á Âu để khẳng định vua “phải thuận theo ý muốn của dân, phải làm những việc lợi dân ích quốc.” và “nếu không thế, thì cũng bị phạt, bị tội như mọi người vậy.”
Tác giả đã vạch ra nguyên nhân khiến nước ta bị Pháp xâm chiếm và càng ngày càng sa sút, tàn mạt: «… ông bà nhà Nguyễn, trong 200 năm mở mang gần nửa nước Nam, công đức lớn biết là bao nhiêu, mà con cháu làm vua chỉ chưa đầy 50 năm, đã bị họa mất nước, là bởi cớ đó, thảm thay! Sự học hành thời hủ bại, nên học trò dốt nát, chỉ biết thi đậu làm quan để ăn cướp của dân, chẳng biết Nhà nước là gì.

Vậy cho nên đến nay Nhà nước một ngày một sa sút, càng ngày càng tàn mạt, chẳng còn đứng vào bực nào cả …». «Cứ sự đã qua đó mà buộc tội, chẳng vua thì ai? Dẫu có anh thầy kiện giỏi miệng lưỡi đến thế nào, cũng không cãi cọ gì được».

Tác giả chỉ ra sự hư hỏng của Khải Định, kết án Khải Định một cách quyết liệt: «Nay Bệ hạ … lúc chưa làm vua, chẳng nghe có một điều gì là hay, mà sự xấu xa thì đã chán chường trước mắt thiên hạ, chỉ lo chạy ngược, chạy xuôi để lên làm vua cho được; đến lúc làm vua được rồi, chỉ làm việc cho con dân oán thán mà thôi. Vậy mà nay lại còn dựa hơi quyền nọ quyền kia, bắt buộc dân còn phải tôn mình nữa kia!

Chiếu theo luật xưa nay, dân Âu, Á chúng nó bắt tội các vua của chúng, mà xử Bệ hạ, thì một cái giết, hay là cái đuổi, hai cái đó Bệ hạ không thể tránh được».

II. TỘI THƯỞNG PHẠT KHÔNG CÔNG BÌNH:

Sau khi lí giải vì sao việc thưởng phạt phải công bình, tác giả nêu ra những việc làm bất công, gian dối, mờ ám của Khải Định: «Tôi nghe đích rằng: Bọn tên X là bạn chơi bời lăng lố với Bệ hạ khi trước. Khi Bệ hạ làm vua rồi, thằng thì được thăng chức Thống chế để hầu hạ bên mình, thằng thì cho làm Tri phủ, Tri huyện, quan Tỉnh hay quan Kinh, vấn vân. Lại nghe có anh quan Thị lang nọ, vợ anh ta có oán riêng với Bệ hạ lúc còn chưa làm vua, khi Bệ hạ lên ngôi rồi, nhơn sự rủi ro nho nhỏ, anh ta bị cách chức đuổi về ngay. Lại một người Thượng thơ hay bán rao những cái tịt riêng của Bệ hạ ra ngoài, nhơn dịp nó mất chỗ dựa, Bệ hạ tìm cớ buộc tội nặng, xử 8 năm tù, án đã làm rồi, sau nghe anh ấy túi tham vẫn đầy, trút ra 5 vạn đồng bạc, mới được đổi lại, giáng chức đuổi về.

Vậy thì sự thưởng phạt, Bệ hạ cứ theo cái ý riêng của mình, chẳng cần gì phép nước, làm cho thêm sự gian dối lo lót ra. Vua như thế, thời vua làm gì?

Lại nghe Bệ hạ nuôi một tụi lính kín hơn 40 người ở bên mình, để mai chiều đi do thám chốn hương thôn, nơi thành thị, xem có ai gièm chê gì mình không. Nếu có, thì Bệ hạ hoặc là tìm cách buộc tội ngay, hoặc là dùng cách bí mật làm hại mà không cho người ta biết Những quân đó rặt là quân côn đồ, cậy thế gần vua, làm lắm điều phi pháp, khiến cho lương dân ai ai cũng phải sợ hãi, khóa mồm bịt miệng, ra đường gặp nhau chỉ lấy mắt trông nhau mà thôi, thiệt là làm cho nhân dân khổ sở thảm thê.

Tác giả đã kết lại như sau: Xưa vua Lệ nhà Châu là người lắm nết xấu, sợ dân chỉ trích, mới đặt ra một cái phép để giữ sự chê gièm, cũng làm như Bệ hạ vậy. Ông Thiệu công can rằng: «Bịt miệng dân khó hơn là bịt miệng sông», vua Lệ không nghe, sau quả bị dân giết. Sao Bệ hạ không lấy gương đó mà soi?

III. TỘI CHUỘNG SỰ QUÌ LẠY:

Tác giả cho rằng: «Một người ngồi sồ sồ ở trên, bao nhiêu người dưới phải áo mão dập đầu xuống đất, chẳng những là làm mất cái phẩm giá của loài người, mà lại làm cho người trên sinh lòng kiêu căng, người dưới mất lòng liêm sỉ, thực là một cái lễ phép rất mọi rợ».

Tác giả mạnh mẽ chỉ trích, đả kích việc chuộng sự quì lạy của vua Khải Định, chỉ ra những hệ quả xấu của nó: Lễ lạy không phải là lễ văn minh, vua cũng không phải là Trời, quan và dân không phải là đầy tớ mạt, ga xe lửa và bến tàu không phải chỗ Triều đình, mà sao Bệ hạ dám bắt người ta vùi áo mão trong chốn lầm than, xem loài người như tuồng trâu ngựa, làm cho người ngoại quốc trông vào, chẳng những là chê cười Bệ hạ, mà lại mỉa mai khi dể cả và nòi giống dân An Nam nữa. Những sự đó, phàm những người có ít nhiều trí khôn, biết được một tí văn minh đời bây giờ, chẳng ai chịu làm, mà Bệ hạ cứ vui vẻ tự đắc mà làm được, thực là quá! Vậy không phải một người ngu là gì?

Và, tác giả đã đặt ra cho vua Khải Định một câu hỏi hóc búa: «Vậy thì Bệ hạ chẳng biết việc gì là xấu hổ sao? Bệ hạ chẳng quản gì danh tiếng của Bệ hạ mặc lòng, còn thể diện nước Nam thì sao?»

IV. TỘI XA XỈ VÔ ĐẠO:

Tác giả cho rằng việc Khải Định không dùng những cung điện cũ của các vua trước và cho xây cung điện mới nguy nga, đồ sộ ở An Cựu (2) và chế khăn, mũ, áo, giày là hoang phí, tốn kém vô ích: «… liền làm ngay một sở cung điện nguy nga ở làng An Cựu, mua những đồ sứ của Tàu, mỗi lần vài ngàn bạc, đem về đập bể ra, lựa những miếng nào bông hoa đẹp, để gắn những hình con long, lân, phụng cho thỏa lòng xa xỉ của Bệ hạ. Lại đem bạc tiền thuê người Tây đúc ba, bốn cái tượng đồng của mình, phí tổn ước mỗi cái trên dưới một vạn đồng bạc, để chưng trong nhà đấu xảo. Lại từ cái khăn, cái mũ, cho chí cái áo, cái giày, Bệ hạ đều đính vàng, ngọc, kim cương, giá phí biết là bao nhiêu! Rất đỗi lấy vàng luột giát ra làm cái ủng để bao cả bắp chưn, xa phí dại dột, từ xưa đến nay chưa có nghe ông vua nào làm như thế bao giờ ».

Tác giả kịch liệt đả kích việc chi tiêu hoang phí, biếu xén và cho tặng bừa bãi của vua Khải Định lúc ở Pháp: «Lại Bệ hạ lúc qua Tây, xuống tàu từ Tourane cho đến khi qua đến Tây, lúc ở trên tàu, gặp khách bộ hành nào, những rượu sâm banh hạng nhứt là đãi cho thả cửa, chỉ nói những tiền cho «buộc boa» (pourboire) cũng đến 20.000 quan, còn kim tiền, kim khánh thì đụng ai cho nấy, chẳng kể sao hết được!
Tác giả đặt vấn đề : « Ai còn lạ gì, khi Bệ hạ chưa làm vua, trong túi chẳng có một xu, vậy thì tiền đó ở đâu mà tới? Chẳng phải Bệ hạ ăn cắp tiền kho, tiền kín của nước ta, thì tiền đâu? ».

Tác giả cho rằng nếu vua Khải Định dùng tiền bạc hoang phí nói trên để xây một trường Đại học, mua sắm trang thiết bị cho trường, nuôi học sinh du học tại Pháp thì «hai cách dùng tiền, thì bên nào lợi hơn và bên nào hại hơn?Bệ hạ sẽ xét đấy mà xem».

Tác giả đặc biệt phẫn nộ khi dân chúng phải ăn đói mặc rách, phải còng lưng ra để đóng đủ các thứ thuế để vua có tiền tiêu xài lãng phí: «Thế mà nay khi thâu thì bóp chắc từng xăng tim mà khi vãi ra thì coi như tro bụi! Vậy thì dân An Nam có tội lỗi gì mà bắt chúng nó phải chịu cả trăm điều đau đớn, đem những đồng tiền máu mủ của chúng nó mà dâng cho một người vua tiêu phá một cách dại dột như thế ư?».

Và, tác giả đã gút lại về cái tội thứ tư của vua Khải Định như sau: «Bệ hạ viết thư cho Bộ trưởng thuộc địa có câu xưng là «cha mẹ dân». Thử hỏi nước ta xưa nay vốn trọng luân lí gia đình, mà có đâu thứ cha mẹ tàn nhẫn bất lương như vậy? Đổi lại, phải nói thằng giặc của dân thì đúng hơn».

V. TỘI PHỤC SỨC KHÔNG ĐÚNG PHÉP:

Trước hết, tác giả phê phán cách ăn mặc không giống ai, không theo định chế nào cả của vua Khải Định: «Bệ hạ tự ý chế ra một thứ lễ phục kiểu mới, tự mặc để ra Triều. Kiểu ấy là trên áo cẩm bào cũ, thêu vào cái cầu vai kiểu Âu, còn cổ áo và tay áo thì đính vàng ngọc lòe loẹt, Âu không ra Âu, Á không ra Á, lại trên nón vua thì thêu thêm những hình rồng hình phụng sáng ngời.

… Nếu nói rằng cách mặc xưa không hợp với đời nay, phải cải cách cho hợp thời, thì đó không phải việc không nên làm. Xem như Tàu với Nhật công phục đều theo lối Âu châu thì sao? Nhưng phải đặt làm thể thức nhất định, trên dưới một loạt, thay đổi theo mới, lấy thể lệ công bố ra ai nấy đều phải theo, như vậy thì sao lại không nên?

Cuối cùng, tác giả chỉ ra những tác hại của việc ăn mặc chẳng giống ai của vua Khải Định và xem đó là một tội: «Nay Bệ hạ lại trái hẳn, tự chế tự mặc, chỉ lo làm sang một mình, người trong nước xem vào không gì là chính đính, lại làm cho tai mắt người ngoài lầm lạc! Đã sai phép bang giao, lại làm nhục quốc thể, chiếu luật pháp nước nhà, phải chịu điển hình (3). Đó là năm tội».

VI. TỘI DU HẠNH (4) VÔ ĐỘ:

Tác giả phê phán việc vua Khải Định đi lại chơi bời tốn kém tiền bạc, công sức của nhiều người, làm khó làm khổ cho dân chúng, bỏ bê việc nước việc dân: «Sau khi Bệ hạ lên ngôi, thì ra sức khuếch trương nghi trượng nhà vua, thường thường ra đi chơi rông, nào là voi, nào là kiệu, nào là xe, nào là ngựa, những người theo hầu, nhiều thì đến hàng trăm, ít cũng ba bốn chục, chiều lại dong chơi trong thành thị. Trang sức lộng lẫy, nghi thức oai nghiêm, quân hầu nghênh ngang, nước ta bốn mươi năm chưa từng có. Người đi đường khổ việc chạy tránh, dân trong nhà chán sự hầu phiền, còn Bệ hạ thì dương dương tự đắc, ý muốn tỏ cho người ta biết rằng Hoàng đế là sang».

Tác giả chỉ ra sự sai trái của việc đi lại, chơi rông của nhà vua và kết án: «Xét luật pháp các nước văn minh, không có quyền lợi nào mà không có nghĩa vụ kèm theo. Nay Bệ hạ tự tôn quân quyền, tự ý làm oai làm phúc, chính trị bỏ lơ không mảy may lưu tâm đến. Nhân dân đói lạnh chẳng chút hỏi han, mà lại ngày ngày chơi rông, kiêu căng buông lung, thì còn trách kẻ bầy tôi sao được? Bệ hạ thì cao quí lắm đó, còn quốc dân đau khổ thì sao?

Như vậy là chỉ biết quyền lợi mà không biết có nghĩa vụ, chiếu theo luật, hễ không làm hết nghĩa vụ thời phải chịu trách nhiệm. Cái tội hại nước hại dân, Bệ hạ phải chịu là thủ phạm trước hết».

VII. TỘI SANG PHÁP LÀM VIỆC ÁM MUỘI:

Trước hết, tác giả nêu ra ba mục đích khác nhau của chuyến đi Pháp của vua Khải Định rồi phê phán, bác bỏ cả ba:

- Đưa Hoàng tử đi học, đi điếu quân sĩ nước ta tử trận, đi xem các thành phố phía bắc nước Pháp bị tàn phá: Tác giả cho rằng «những việc đó đều là việc tư của Bệ hạ, không phải việc công của quốc dân ta, lại đó là những việc không cần kíp gì cả».

- Đi du lịch nước Pháp để khảo sát văn minh của họ rồi về cải cách chính trị trong nước: Tác giả cho rằng «Bệ hạ không phải là tay làm việc ấy được. Sao vậy? Vì nước Pháp là nước dân chủ, mà Bệ hạ là vua tôn quân quyền, … Vả chăng Bệ hạ không am hiểu tiếng Pháp, mà mấy ông đại thần đem theo, như tên X tên Y đều là bọn hạ tiện nước ta, trí thức của họ còn thấp hơn con nít 10 tuổi của Pháp. Lại trong khi Bệ hạ ở Ba lê (Paris), chỉ có một lần đến trường đua ngựa, cá được 200 quan, còn những Viện bác cổ lớn, học đường lớn, thương quán lớn, công xưởng lớn và những nơi nhóm họp bao nhiêu văn minh tinh túy của nước Pháp v.v.. thì chưa từng bước chân vào, nói rằng đi khảo sát, thời khảo sát mà như vậy ư?».

- Đi dự cuộc đấu xảo thuộc địa Marseille: Tác giả cho rằng «Trung kì là cái xứ ở dưới quyền chuyên chế của Bệ hạ, thì sĩ phu lòng đen như mực, nông dân xương gầy như củi, có gì là xảo đâu! Chỉ duy đại thần và quan lại của Bệ hạ, thì cái xảo quì lạy, cái xảo dua nịnh, cái xảo ăn hối lộ, cái xảo xẻo thịt dân để ăn cho béo cho mập, nhưng tiếc thay! cái loài quỉ sứ ấy, thì tại Pháp đây, sáu bảy mươi năm về trước, họ đã nhận xuống nước sâu, ném vào lửa đỏ cả rồi, nay Bệ hạ đem loài ấy qua, thời không ai còn mà đấu với nữa!».

Tiếp theo, tác giả nói đến việc dư luận cho rằng vua Khải Định «cậy oai chuyên chế, vơ vét của dân, mua đồ xa xỉ hạng nhất của các nước Á Đông và nước mình, tóm thâu tất cả đồ quí báu của các triều trước để lại, chứa đựng có hơn trăm hòm, ngày nay đem cả theo, nhờ người Pháp tên X tên Y vận động, dâng lễ cho đảng quân chủ nước Pháp, để nhờ củng cố ngôi vua cho cha con Bệ hạ và nhờ họ làm hậu viện để mong đạt cái mộng tôn quân quyền, sau thành việc rồi Bệ hạ về nước sẽ thị oai dâm bạo, khóa hết miệng lưỡi quốc dân, rồi sẽ kí điều ước này điều ước nọ để đền đáp. Việc nầy tuy còn ở trong vòng bí mật, nhưng người ta đã đồn rầm ở ngoài, không phải là không có cớ, theo lời tục ngữ của Pháp «không lửa mà có khói» ai tin!»

Tác giả khẳng định ý đồ này của vua Khải Định là thất sách và nhất định sẽ thất bại vì «Bệ hạ muốn giữ vững ngôi quân chủ, mà lại đi cầu khẩn với dân của một nước dân chủ, tôi đã biết muôn phần không có một phần nào thành công được.

Cái bệnh của Bệ hạ là bởi ngu muội, chưa từng đọc lịch sử cách mạng dân chủ của nước Pháp vậy. Nếu một mai biết được thì sẽ gục đầu chán nản, cuốn gói mà về sớm vậy».

Tiếp theo, tác giả trình bày quá trình sụp đổ của thể chế phong kiến chuyên chế và thắng lợi của dân chủ tự do tại Pháp, châu Âu và trên toàn thế giới và khẳng định «cái chủ nghĩa dân quyền thần thánh bất khả xâm phạm, nó đương bồng bồng bột bột như mặt trời giữa trưa, chiếu thấu cả bầu trời, mà về sau chính thể quân chủ tất không còn chỗ đứng chân, còn nói chi đến việc chuyên chế dã man nữa».

Kết lại phần nói về cái tội thứ bảy này, tác giả tiếp tục đả kích những việc làm sai trái và kết án vua Khải Định: «xem lại hơn trăm hòm đồ quí của Bệ hạ đáng giá bao nhiêu, lại dám đem bạch bích mà nhem thèm, đem huỳnh (hoàng) kim mà đen lòng, đi ngược lại phong triều (trào) thế giới, trái với công lí nhân đạo, làm dơ danh dự của quốc dân, để vì Bệ hạ giữ lại cái vận mạng của nền quân chủ chuyên chế, nó đã gần tàn như giọt sương ban mai rồi. Nói rằng 20 triệu quốc dân oán là việc nhỏ, còn mặt mũi nào đối với vạn quốc trên thế giới ư? Xem vậy Bệ hạ đi chuyến này chắc chắn là thất bại, không còn ngờ gì nữa. Chỉ tiếc thay, bao nhiêu máu mỡ của 6-7 triệu quốc dân ta, bao nhiêu cái kho tàng quí báu của nước nhà ta dành dụm mấy trăm năm nay, chỉ vì sự lơ lỉnh nhỏ nhen mà Bệ hạ đem vứt đi một cái, làm chìm lỉm hết thảy theo ngon sóng Tây dương!».

C. PHẦN KẾT:

Để tổng kết «Thư thất điều» của mình, Phan Châu Trinh đã gút lại những điểm chủ yếu như sau :
- Chỉ nêu bảy điều có quan hệ đến quốc kế dân sinh, những điểm xấu xa còn nhiều không kể xiết nhưng không quan hệ đến việc nước cho lắm hoặc có dính đến đời tư cá nhân nên không nói đến làm gì.
- Dân trí thế giới tiến bộ mỗi ngày ngàn dặm, ngày tàn của quân chủ chuyên chế trên thế giới không xa mấy, không cần khôn ngoan cũng biết.
- Nước ta, dưới chính thể chuyên chế vô trách nhiệm đã tụt hậu thê thảm, thua kém nhiều nước Á Đông, kể cả Xiêm La (Thái Lan) từng thua kém ta rất nhiều. Đó là tội lỗi của chế độ chuyên chế.
- Xu thế toàn cầu là như vậy, cái ngôi của Khải Định đã nguy «tợ như trứng mỏng». Thế mà Khải Định còn mê muội, làm đủ điều xằng bậy.
- Đến đây, viết đã cùn, tay đã mỏi, giấy đã hết, điều muốn nói hãy còn. Tác giả cho rằng mình không công kích cá nhân Khải Định mà là công kích hôn quân, không vì tư kỉ của tác giả mà vì 20 triệu đồng bào, quyết xô ngã chuyên chế, ủng hộ tự do.
- Nếu Khải Định có đủ thiên lương, chút biết hối ngộ thì hãy quay về, tự thoái vị, đem chính quyền dâng trả cho quốc dân. Đó là cách tốt nhất, dân có thể dung thứ cho.
- Nếu Khải Định cố bấu víu quân quyền chuyên chế, tác giả sẽ phải cùng 20 triệu đồng bào quyết liệt tuyên chiến với Khải Định, «nguyện để cho cái đầu của Trinh cùng với cái quân quyền chuyên chế dã man của Bệ hạ đồng thời rơi xuống đất».

D. BỊ CHÚ:

Ở phần bị chú, tác giả ghi 4 ý:
- Thư được viết bằng Hán văn để gửi cho Khải Định, dịch ra Pháp văn để đăng báo và rải truyền đơn để rộng đường công luận.
- Giữa tác giả và Khải Định đã đoạn tuyệt quan hệ nên nói «gởi» không nói «dâng». Hai chữ «Bệ hạ» được dùng để xưng hô cho tiện, chứ không phải là tôn kính.
- Tác giả không kiêng tên húy, viết thẳng ra, là để tỏ ý phản đối.
- Tác giả nói rằng chấm câu theo kiểu mới trong thư là để Khải Định khỏi mất nhiều thì giờ.

Marseille, ngày 14 tháng 7 năm 1922
Phan Châu Trinh

Tóm lại, «Thư thất điều» của Phan Châu Trinh, là một cái thư có một không hai, đã mạnh mẽ, quyết liệt đả kích vua Khải Định, đả kích chế độ phong kiến chuyên chế lỗi thời, thủ phạm gây nên thảm họa mất nước, làm cho đất nước lạc hậu, nhân dân nghèo đói, khốn khổ, tủi nhục.

Qua «Thư thất điều», người đọc thấy rõ những tư tưởng cách mạng tiên tiến, đúng đắn, những tình cảm cao đẹp, nồng thắm của Phan Châu Trinh. Đó là tư tưởng cách mạng dân chủ, dân quyền. Đó là lòng yêu Nước thương Dân sôi nổi, thiết tha. Đó là nỗi căm ghét tột cùng tất cả những gì có hại cho Nước cho Dân.

“Thư thất điều” rất hấp dẫn, lôi cuốn người đọc bởi lập luận chặt chẽ, mạch lạc, bởi chứng cứ phong phú, xác thực, bởi giọng văn hào sảng, hùng hồn, sôi nổi, ngang tàng.

Sau hết, «Thư thất điều» còn cho người đọc thấy được dũng khí cách mạng, tinh thần kiên cường, bất khuất của Phan Châu Trinh, đúng như Phan Bội Châu đã ngợi ca: «Gan to tày bể, sức xông pha nào kể ức muôn người;… Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng, nhà cường quyền trông gió cũng gai ghê; Một ngòi lông vừa trống vừa chiêng, cửa dân chủ khêu đèn thêm rạng chói». («Văn tế Phan Châu Trinh» - Phan Bội Châu – Huế, 1926).

Ninh Thuận, ngày 03-4-2018
PHAN THÀNH KHƯƠNG

CHÚ THÍCH:

(*) Tất cả các trích dẫn trong bài viết này đều được lấy từ “Tuyển tập Phan Châu Trinh” in lần hai (có sửa chữa, bổ sung và tăng cường) của Tiến sĩ Nguyễn Văn Dương, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, năm 2006.
(1) Tây Hồ là tên hiệu của Phan Châu Trinh, vì vậy người ta còn gọi Phan Châu Trinh là Phan Tây Hồ. Ông còn có một tên hiệu khác là Hi Mã.
(2) Đó là cung An Định ở An Cựu (Huế).
(3) Điễn hình (殄刑): đuổi đi, buộc thôi việc, không cho làm vua nữa.
(4) Du hạnh (遊婞): đi chơi, giải trí.

  • Phan Thành Khương (ít dùng), Lê Quang Huy  like this.
    • Phan Thành Khương (ít dùng)  Cảm ơn anh! 16:10 27/09/2018
    • Lê Trung Tĩnh  Cảm ơn bác Khương. Không biết sau khi gửi thư này thì cụ Phan có bị gì không? 21:26 13/10/2018
    • Phan Thành Khương (ít dùng)  Không. Lúc này ông đang ở Pháp. 11:16 14/10/2018
Please to comment

Phan Thành Khương (ít dùng)

575 Credits Price: USD/hr
  • Location:
  • Vietnam - Ninh Thuận
  • Gender:
  • Male
  • Languages:
  • Vietnamese
  • Transports:
  • Motorcycle
  • Availability:
  • Weekend
  • Interest:
  • Travel
    In English
    Education
    Lifestyle
    Sports
    Religion
About me:

Friend list (50)